Hãy đối mặt với việc tăng giá xăng dầu: không còn cách nào khác, ngân sách nhà nước không thể gánh sức nặng của việc trợ giá khi giá xăng dầu thế giới liên tục tăng cao. Giả định mức lỗ lên tới gần 60.000 tỉ đồng (tức là hơn 3 tỉ USD) là mức quá lớn, trong khi tổng thu nhập ngân sách nội địa trên dưới 200.000 tỉ đồng.
Giá xăng dầu trở thành câu chuyện nóng bỏng trong nhà, ngoài phố và trên các diễn đàn trong những ngày qua. Sẽ khó tránh được ảnh hưởng tâm lý dẫn đến việc tăng giá hàng loạt mặt hàng khác. Tuy nhiên, việc tăng giá vô tội vạ có duy trì được không, thị trường sẽ có câu trả lời.
Trợ giá xăng: Người giàu được lợi
Theo những phân tích số liệu đánh giá ảnh hưởng của việc tăng giá xăng dầu do một nhóm chuyên viên thuộc viện Khoa học xã hội thực hiện, chính sách trợ giá xăng dầu duy trì trong thời gian qua làm lợi cho nhóm người giàu trong xã hội hơn là nhóm người nghèo.
Lấy từ các số liệu điều tra hộ gia đình năm 2006 do tổng cục Thống kê thực hiện, trong 5 nhóm thu nhập cơ bản trong xã hội, thì nhóm 20% những người nghèo nhất nước bình quân một năm mỗi hộ tiêu dùng khoảng 14 lít xăng dầu (trong đó có 3 lít dầu thắp sáng), tổng chi phí khoảng 14.000 đồng (theo giá tháng 1/2006), chiếm 1,2% trong tổng chi tiêu gia đình. Trong khi đó, nhóm 20% những người giàu nhất xã hội chi dùng khoảng trên 150 lít xăng dầu/hộ/năm, tổng chi phí trung bình 1,7 triệu đồng, chiếm 3,6% trên tổng chi tiêu.
“Nhóm dân cư giàu nhất dùng nhiều xăng nhất, và lại được hưởng trợ giá nhiều nhất, khoảng trên 4.000 đồng/lít xăng”, một đại diện (không muốn nêu tên) của nhóm chuyên viên kinh tế của viện Khoa học xã hội nhận xét. “Ngân sách đang phải gồng mình trợ giá cho nhóm những người giàu hơn. Như vậy, để đỡ gánh nặng cho nhóm những người nghèo trong khả năng chịu đựng của ngân sách, Chính phủ có thể hỗ trợ trực tiếp thay vì hỗ trợ tràn lan trên giá xăng như hiện nay”.
Theo phân tích này, những tác động trực tiếp của việc tăng giá xăng dầu lên người dân không nặng nề như chúng ta tưởng. Những bộ phận dân cư có thu nhập cao trong xã hội, đặc biệt những người đi xe hơi riêng, sẽ phải tiết giảm chi tiêu của mình nếu họ cảm thấy sức ép thực sự của việc giá tăng. Cho dù không tiết giảm chi tiêu, nay họ phải chấp nhận mức giá gần giá thị trường và không được trợ giá nữa. Với những người nghèo, Chính phủ sẽ phải có chính sách trợ cấp cụ thể, cụ thể bằng chính sách an sinh xã hội vừa được Chính phủ công bố.
Những tác động gián tiếp đáng lo ngại hơn, là việc giá cả bị đẩy lên vì yếu tố tâm lý sẽ khiến cho đời sống của người dân chật vật hơn, và đẩy lạm phát lên cao. Trên thực tế, theo ước tính của Chính phủ tác động trực tiếp của việc tăng giá xăng dầu lên chỉ số giá tiêu dùng (CPI) chỉ có 0,7 điểm phần trăm. Điều đáng ngại hơn là tác động gián tiếp của việc giá xăng dầu tăng vào các mặt hàng khác: Chi phí sản xuất tăng sẽ khiến các doanh nghiệp có xu hướng tăng giá bán. Thế nhưng chi phí sẽ tăng đến mức nào?
Thách thức với doanh nghiệp
Theo một kết quả điều tra trên vài ngàn doanh nghiệp trong năm 2006 do tổng cục Thống kê thực hiện, nhóm nghiên cứu viện Khoa học xã hội ước tính chi phí cho nhiên liệu trung bình khoảng 2,8% và chi phí vận tải chiếm khoảng 4,2% tổng chi phí sản xuất. Đây là mức thấp đáng ngạc nhiên. Dĩ nhiên, mỗi ngành kinh doanh cụ thể có cơ cấu chi phí khác nhau. Ngành vận tải sẽ là ngành chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của việc tăng giá xăng, vì xăng dầu chiếm bình quân 25% trên tổng chi phí. Tiếp đó là các ngành hàng sản xuất các sản phẩm từ chất khoáng phi kim loại, ngành du lịch, lữ hành và đến các ngành sản xuất kim loại: đây là những ngành hàng có tổng chi phí vận tải và nhiên liệu trên 10% tổng chi phí, và như vậy sẽ bị ảnh hưởng đáng kể vì việc tăng giá xăng dầu.
Với việc giá xăng tăng và đẩy chi phí đầu vào lên, những ngành kinh doanh này sẽ có xu hướng tăng giá bán, đẩy gánh nặng này lên đầu người tiêu dùng. Trong những ngày tới, việc tăng giá theo yếu tố tâm lý rất dễ xảy ra, và đây là một lo ngại của Chính phủ đã được phó thủ tướng Hoàng Trung Hải bày tỏ trong cuộc họp báo hôm thứ hai vừa qua. Nhưng tăng đến mức như thế nào, và duy trì việc tăng giá được bao lâu, lại là một câu chuyện khác. Một số nhà kinh tế cho rằng việc giá tăng tâm lý không thể duy trì được lâu. Một khi người tiêu dùng cắt giảm chi tiêu, giới kinh doanh không thể nâng giá bán mãi.
“Tỷ lệ lạm phát như thế nào còn phụ thuộc vào chính sách tiền tệ của ngân hàng Nhà nước”, chuyên viên không nêu tên ở trên nói. “Nếu Nhà nước duy trì được chính sách thắt chặt tiền tệ, thì lạm phát có thể kiềm chế được. Với chính sách tiền tệ siết chặt hiện nay thì tác động của giá xăng dầu vào chỉ số CPI chỉ có thể lên 2 – 3 điểm phần trăm”. Để kiềm chế lạm phát, Chính phủ sẽ tiếp tục duy trì việc quản lý giá cả hàng hoá bằng biện pháp hành chính, và sẽ bổ sung danh mục những mặt hàng được quản lý giá lên hơn 30 mặt hàng. Tuy nhiên những biện pháp hành chính chỉ có thể được áp dụng trước mắt, khó có thể kéo dài vì doanh nghiệp phải duy trì sản xuất kinh doanh. Chính sách tiền tệ thắt chặt sẽ ngăn chặn chi tiêu trên thị trường, nhưng cũng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp. Doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn và lợi nhuận sẽ bị tác động mạnh. Trong khi đầu ra không tăng và thị trường không chịu được chi phí cao, doanh nghiệp lại phải gánh chịu chi phí đầu vào tăng cao. Trong một số lĩnh vực của nền kinh tế, nếu sản xuất bị cắt giảm thì nền kinh tế sẽ bị thiệt hại. Như vậy, Chính phủ vẫn đang đối mặt với những bài toán kinh tế vĩ mô rất khó khăn.
Theo Sài gòn tiếp thị
|