|
Nếu không có con đò miệt mài “cõng” những cô cậu học trò kiên trì mấy năm nay, thì lớp trẻ vùng đất cồn bãi giữa dòng sông Gianh có lẽ chỉ có thể từ bờ bên này nhìn sang bờ bên kia mà khát... chữ.
Ông Nguyễn Khắc Tâm, Chủ tịch Hội Khuyến học xã Quảng Minh (Quảng Trạch, Quảng Bình) nói với tôi như vậy.
Quyết “đấu” để được chạy đò ngang
Anh Hoàng Phú Quán đang ngồi trước mặt tôi với thân hình chắc khỏe, vạm vỡ của một người quen nghề sông nước.
Anh trả lời những câu hỏi cứ vội vội, vàng vàng, mắt nhìn hút sang bên bờ sông dõi trông, tìm kiếm có vẻ nôn nao lắm. Được chừng dăm câu, anh xin lỗi và tất tả khởi động cho thuyền sang bờ bên kia đón khách. Tôi kiên nhẫn ngồi chờ chuyến đò sau để được gặp anh, tiếp câu chuyện đang còn dở dang.
Từ bờ này sang bờ kia của con sông Gianh rộng chừng 200m, có thể quan sát được những người khách đợi đò. Trong cái nắng gần giữa trưa, khách đợi đò của anh Quán hầu hết đều mặc áo trắng.
Chị chủ quán cóc bên mé sông bảo, giờ này là giờ tan học của học sinh vùng cồn bãi đang học cấp 2 và cấp 3 (THCS và THPT) miệt phía đất liền.
Cái cách nói của chị chủ quán khiến cho tôi cứ hình dung từ bờ này của vùng ốc đảo sang bờ kia đất liền cứ xa vời vợi...
Chừng 30 phút, khách đã đầy thuyền, con thuyền trở mũi quay về bờ bên này. Chừng bốn chục học sinh áo trắng, quần tối màu với cũng ngần ấy xe đạp chất đầy thuyền từ từ cập bến. Tôi chợt nhớ ra ngày hôm nay là ngày chào cờ thứ Hai đầu tuần, các trường học tổ chức chào cờ nên các cô cậu học trò vận đồ đồng phục.
Phía bờ bên kia giờ đã vắng ngắt. Anh Quán đẩy thuyền sâu vào bến và tiếp tục câu chuyện của mình.
Như bao trai làng khác ở vùng này, đến tuổi anh tham gia nghĩa vụ quân sự. Xuất ngũ năm 1986, lấy vợ, sinh con và tìm kế sinh nhai.
Cái khó của vùng đất dọc bờ sông Gianh này thì ai cũng biết. Nắng mưa bão lũ triền miên. Ruộng đất ít lại bạc màu. Kiếm được miếng ăn cho 5 người trong gia đình quả không đơn giản.
Những ngày đầu về quê, cứ đưa sức trẻ ra mà “ủi”. Một thời gian dài chuyên đi khai thác cát sạn xuôi xuống hạ lưu bán cho các công trình xây dựng. Vắt kiệt sức lực mồ hôi nhọc nhằn kiếm sống. Mãi cho đến khi xã có chủ trương cho đấu thầu việc chạy đò ngang qua bến đò Chợ Mới này thì anh Quán mới nghĩ đến việc đổi nghề.
Anh tâm sự: “Quyết định đổi nghề đối với tôi không đơn giản chỉ là việc chuyển từ nghề nặng nhọc sang nghề đỡ vất vả hơn đâu. Gia đình tôi ở ngay sát bến sông thuộc thôn Minh Lệ. Cứ chiều tối, hay trong đêm nghe tiếng gọi đò tha thiết, khẩn cầu là tôi không thể nào ngủ đuợc. Cứ như mình là người có lỗi.
Nhất là những khi trời mưa bão. Bao khách nhỡ độ đường đành phải tìm nhà ngủ nhờ chờ trời sáng. Khổ và tội nhất là các em học sinh. Có việc trường lớp về muộn không kịp đò là phải vật vờ, ăn nhờ ở đậu. Chúng còn quá nhỏ để có thể đối phó với những hoàn cảnh như vậy”.
Ngày đó, người lái đò ngang ở bên thôn Cồn Nâm này, tuổi đã cao, sức khỏe cũng có hạn và thất thường theo thời tiết nên chuyện học sinh trễ tiết học và nằm lại bờ bên kia là chuyện thường ngày.
Cái sự học của vùng cồn bãi đã vất vả gian nan, thêm cách đò trở giang thành ra càng khó khăn gấp bội. Khổ nỗi, cả 4 thôn cồn bãi với gần 4.000 dân này chỉ có mỗi trường cấp 1. Muốn lên cấp 2, cấp 3 phải lụy đến đò. Nhiều gia đình thấy việc học hành ở vùng đất này sao mà chật vật, trắc trở, nên con cái học xong cấp 1, biết đọc cái chữ là ở nhà phụ việc...
Đến khi nghe có chủ trương cho đấu thầu việc chạy đò ngang, anh Quán mừng lắm. Anh đi học lớp điều khiển thuyền, sắm thuyền và các dụng cụ cứu sinh trên thuyền đầy đủ và... quyết đấu để đỡ khắc khoải hàng đêm, để đỡ phải nhìn thấy những ánh mắt vời vợi đợi đò của con trẻ.
Ốc đảo đã nguôi cơn khát chữ
Ông Nguyễn Khắc Tâm, Chủ tịch Hội khuyến học của xã Quảng Minh cứ nắc nỏm khen mãi khi nói về anh Hoàng Phú Quán.
Ông Tâm nói về anh Quán như một “hiện tượng” lạ của vùng cồn bãi này. Theo ông Tâm, con dân vùng cồn nổi này không phải là không hiếu học. Ngay như gia đình ông đó thôi đã có mấy đứa vào đại học chính quy.
Ông Tâm thống kê: Từ năm 1980-1990, toàn bộ vùng cồn bãi này không có nổi một học sinh cấp ba. May mà thời đó còn có một trường cấp hai trong làng.
Còn nếu như bây giờ, trường cấp hai đã chuyển sang bên kia sông thì không khéo cũng chẳng có nổi một học sinh cấp hai. Đã qua bao thế hệ người chạy đò ngang, họ tùy hứng lắm. Họ chạy vì đồng tiền bát gạo.
Chở học trò vất vả mà thu nhập chẳng được bao nhiêu vì đã có quy định thu tiền đò theo tháng của thôn, của xã nên học trò qua bến sông này họ chẳng mặn mà và nhiệt tình làm gì. Học trò thường xuyên trễ học và nằm lại bờ bên kia cũng vì lẽ ấy.
Cho đến khi anh Quán trúng thầu việc chạy đò ngang ở đây 5 năm nay, lượng học sinh cấp hai, cấp ba tăng đột biến. Giờ 4 thôn vùng cồn bãi này đã có gần 200 học sinh học cấp hai và cấp ba.
Anh Quán chạy đò không kể đêm hay ngày, nắng hay mưa, bão lũ hay trời yên biển lặng. Chỉ cần thấy dù chỉ một học sinh cần đò để đến lớp hay về nhà là chỉ sau mươi phút là đò của anh đã đến rước.
Ông Tâm tự hào: “Nếu không có một người lái đò ngang tận tụy, nhiệt tình như anh Quán có lẽ cái sự học của vùng cồn bãi này khó có thể vực dậy được”.
Gió nồm từ mặt sông Gianh thổi vào mát rượi. Tôi hỏi nhỏ anh Quán chuyện thu nhập từ việc chạy đò ngang lời lỗ ra sao. Anh cười: “Cầm cự được. Mỗi học sinh hàng tháng chi tiền đò 5.000 đồng. Còn người dân qua về trong ngày 2.000 đồng.
Cứ ngay đầu năm học, tôi dán bảng thông báo ngay tại hai bên bến sông, thông báo rằng học sinh nào học giỏi thì miễn tiền đò suốt cả năm học. Học sinh tiên tiến được miễn tiền đò hai tháng. Học sinh có hoàn cảnh khó khăn, miễn giảm một nửa... Học sinh và phụ huynh vui lắm. Cứ thấy học sinh tăng dần trên chuyến đò này qua từng năm, tôi thấy hạnh phúc lắm.
Con đầu của tôi đang học lớp 10, con út vào lớp Một, biết việc tôi làm hàng ngày vì những chuyến đò đưa đón học sinh, chúng nó bảo: “Ba ơi, ba cố gắng đưa thật nhiều bạn bè sang bờ bên này với chúng con nhé! Tất nhiên là tôi đồng ý và cố gắng không phụ lòng tin của các con tôi”.
Theo TPO
|