Sự kiện trong ngày
Thiên nhiên kỳ thú qua ảnh
Trang chủ Ký sự - Phóng sự
Vị cứu tinh của "giờ lễ mật"...
thứ sáu, 27/06/2008, 04:23 (GMT + 7)

Cụ Thâm đang sống ở xã Tứ Xã, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Nếp nhà cổ thanh bạch, hai cụ già sống lành lẽ với một vườn rau tập tàng.

Cụ Dương Văn Thâm

Năm nay 93 tuổi, mắt vẫn sáng, tai vẫn nghe rành, răng vẫn đều chằn chặn, cụ Dương Văn Thâm là cây sử sống của làng.

Vốn là một hương sư thời phong kiến, biết chữ Nho, bây giờ cụ Thâm vẫn nguyên vẹn khí chất của một nhà Nho, kẻ sĩ thời cổ. Đủng đỉnh, sương khói, tự khắc nghiệt với mình. Đâu ai ngờ, cụ đồ kín tiếng ấy là người đầu tiên, từ năm 1972 đã ghi chép lại lễ hội "Linh tinh tình phộc" (nõ nường) "gai góc" nổi tiếng của Tứ Xã diễn ra vào năm 1928 (!); là người nghiên cứu công phu về cuộc đời ngọt chát của Bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương, với những ngày làm vợ Tổng Cóc; là tác giả của cả chục công trình nghiên cứu, sưu tầm có giá trị khác. Cái nếp nghĩ, nếp làm vừa cổ, vừa lạ và khả kính như cụ, bây giờ thật hiếm!

Lễ "Linh tinh tình phộc" của 80 năm trước

Cụ Thâm đang sống ở xã Tứ Xã, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Nếp nhà cổ thanh bạch, hai cụ già sống lành lẽ với một vườn rau tập tàng. Có khi tôi thấy bà cụ hứng nước mưa từ giọt gianh, rửa vài cọng rau bò lan vào tận mép nhà, thế cũng thành bữa cơm xế bóng. Tôi bắt đầu giật mình về sự đắm say với nghiên cứu sưu tầm của cụ Thâm, khi mà đi tìm hiểu đến tận cùng cái gì ở vùng đất tổ Vua Hùng, cuối cùng văn bản gốc, nghiên cứu "nguồn" vẫn lại hướng cả về cụ Thâm. Có quá nhiều nhà nghiên cứu, có khi là cán bộ sở, có khi là cán bộ trung ương... đã "sử dụng" (nếu không nói là "chôm") gia tài nghiên cứu của cụ Thâm. Hình như cụ biết cả. Cụ Thâm cũng vẫn nhỏ nhẹ, cao đạo thế. Ai công bố, công trình mang tên ai, thì phỏng có quan trọng gì? Bởi cụ là một kho tư liệu quý.

Cụ bà bên nếp nhà cổ

Sinh năm 1915, anh hương sư (giáo làng) Dương Văn Thâm có cả chục năm gõ đầu trẻ bằng "Tam tự kinh". Năm 1945, Cách mạng Tháng Tám thành công, anh Thâm theo tiếng gọi của Đảng, tham gia diệt "giặc dốt" với phong trào Bình dân học vụ. Đi khắp nơi, anh giáo Thâm nổi tiếng cả vùng với việc sáng tác những bài "ca dao" nôm na cho bà con nương vào đó mà xoá mù. Lên tận Bộ Giáo dục, làm ở Nha Bình dân học vụ; rồi về Ty (sở) Văn hoá Vĩnh Phú làm việc đến khi nghỉ hưu, trong quá trình lang thang khắp chốn, cụ Thâm đã sớm nhận thấy sự tàn nhẫn của thời gian, của nhận thức ấu trĩ một thời khiến không ít giá trị truyền thống quý giá bị hiểu sai, bị diệt vong. Phải tìm cách lưu giữ!

Gần nửa thế kỷ qua, cụ đã miệt mài, âm thầm làm việc đó. Điều đáng quý là, ngay từ trước năm 1970, khi mà lễ hội phồn thực ở Tứ Xã quê cụ còn bị coi là dâm tục, đáng phỉ báng, cụ Thâm đã quyết liệt nghiên cứu, lưu giữ với suy nghĩ: Đó là văn hoá.

Một trang bản thảo viết tay trong công trình độc đáo về Trò Trám năm 1928 của cụ Thâm

Bìa tập tài liệu đóng bằng giấy... ximăng, ghi rõ: "Một tấn Trò Trám, trước Cách mạng Tháng Tám, năm 1945", hoàn thành ngày 25.6.1972. Thế là đã 36 năm trôi qua. Chữ viết tay thanh mảnh, chuẩn mực như chữ trẻ tiểu học. Thời điểm mà công trình đề cập, là năm 1928, cách đây đúng 80 năm, cái thời mà nước mình hầu như không nghĩ đến (hoặc không thể có) quay phim chụp ảnh, ghi âm để lưu giữ các tấn trò nguyên bản, cổ xưa, hớp hồn người ta như Trò Trám. "Giáo Thâm" cứ lân la hỏi chuyện, rồi ý nhị ghi chép. Chứ các cụ ngại kể lắm, thậm chí nhiều người còn mặc cảm vì cái sự "dâm tục" mà quê mình phải... lưu giữ lắm.

Công trình là lý do quan trọng, để lễ hội được phục dựng năm 2001, để chúng ta biết và trân trọng Trò Trám như hôm nay. Khi thực hiện công trình, cụ Thâm khảo sát rất kỹ các làng của Tứ Xã, từ địa lý, phong tục, từ cái cách nói ngọng, thích nói tục; đến tín ngưỡng phồn thực như treo cả nõ nường (sinh thực khí của nam và nữ) ở trước cửa nhà sản phụ, ở giàn bầu giàn mướp cho nó sai quả, sinh sôi. Cụ Thâm gặp các cụ già, đọc thần tích, thần phả, bia đá, sắc phong, giải thích vì sao làng tên là Cổ Lãm, vì sao gọi là xóm Trám, Trò Trám. Cụ gặp từng người già trực tiếp tham gia lễ Trò Trám nguyên bản cuối cùng (năm 1928) để hỏi, cụ nào, tên là gì... rất cụ thể, như những thước phim tài liệu chuyên nghiệp nhất.

Lễ lấy giờ, phải đợi gà gáy canh một, rồi từng bước đi đến... nam nữ giao hợp thoải mái, xin trích, cụ thể đến ngỡ ngàng: "Một bên là nam, cầm cái dùi gỗ hình dương vật, một bên là nữ, cầm cái mu rùa bằng gỗ hình âm vật. Nghe dứt tiếng xướng của cụ già: "Linh tinh tình phộc", thì hai bên xích lại gần nhau, chạm cái dùi vào cái mu rùa ba lần để lấy khước. Khi toàn dân trong phường nghe tiếng chiêng chống inh ỏi báo hiệu đến giờ ở ngoài miếu trò, thì từng đôi nam nữ có quyền hoạt động sinh lý (tình dục) với nhau mà không tội vạ gì".

Sau khi diễn tả đủ lễ rước bông lúa, rước cây lúa thần (là cây mía cắm vào cái lục bình lớn), cụ Thâm "dựng" lại chi tiết từng trò chơi một, ông đồ, đứa học trò, anh thợ mộc, anh đàn hát, đánh cá, nam nữ tán tỉnh cấu chí nhau, có lời rất thanh, có lời thậm tục - từng lời ca, từng người có tên tuổi cụ thể. Buổi lễ năm 1928 có những người tham gia như sau (giống như giới thiệu diễn viên thủ vai trong phim ảnh hiện nay): Cụ đồ do ông Bùi Văn Phượng đóng, học trò do Chử Văn Kính hoá trang, có người "giả làm nữ" như Dương Văn Đào, có người đóng Vua Thuấn đi cày ruộng như Chử Văn Phấn...

Cụ Thâm viết rất tỉ mỉ: "Hôm ấy, ngày 12 tháng giêng âm lịch, năm Mậu Thìn, 3.2.1928". Đủ các loại hoạt cảnh xuất hiện: Nào là anh vác đàn tranh gẩy phừng phừng, "cây đàn" rất kỳ dị. "Một cái mẹt làm bầu đàn, những khẩu lá chuối làm phím đàn, một khẩu thừng trâu làm "dây đàn", một chiếc đũa cả làm "cây gẩy đàn". Anh đập đũa cả vào thừng trâu phành phạch, nhưng miệng anh thì lại tấu lên những tiếng đàn ngân nga".

Rồi lại xuất hiện anh tên Sinh cầm tấm cót dán giấy đỏ viết bốn chữ: "Tứ dân chi nghiệp" nguệch ngoạc ra, hát trình trò:

"Ôi ối, ồi a
Bước sang năm mới tôi ra trình trò.
Trai thì giữ lấy nghiệp Nho
Gái thời canh cửi chớ cho hỗ hào.
Cày bừa chẳng quản công lao
Đi buôn làm thợ, nghề nào cũng hay!".


Ngoài những cảnh nam nữ ghẹo nhau, hay cái sự tính giao phồn thực, cảnh nào cũng thú vị. Ngồi nghe thầy đồ "dữ đòn" cầm roi dạy chữ, học trò "đứa" nào cũng "quần cộc nâu, đầu chít khăn tai chó màu nâu, lưng thắt dây lưng chồi màu đỏ, đi chân đất". Nghe đã thấy hề. Cảnh Vua Thuấn đi cày, con voi của Vua là hai người đàn ông làng Tứ Xã hoá trang như thật với tai to; vòi lớn bằng nan tre, đan mắt cáo, dán giấy vàng; ngà trắng muốt là hai cành cây xoan tươi tước vỏ, "voi" vừa nghe lệnh Vua, vừa ghẹo gái, tiếng đàn bà rú lên chạy trốn. Hay như lời hát của "ông Nhung, hoá trang làm mộc, với râu dài tóc bạc, gánh trên vai ba cái lờ khá to, nghênh ngang như một chị hàng bồ đi qua dãy phố":

"Ai ơi chớ bảo tôi già
Tôi còn gánh được cả ba cái lờ
Lờ này chẳng phải lờ không
Có ba con bấc nằm trong cái lờ".

Tất cả cùng cười, đàn bà con gái đỏ mặt nấp sau lưng bạn. Cứ thế tiếng cười giòn vang, tích trò diễn ra mãi đến khi trời tối. Trời tối lại có cái "lễ mật" riêng của các cặp đầu mày cuối mắt.

Nửa thế kỷ dốc sức cho "mỏ quặng" quê nhà

Cụ Thâm có niềm đam mê đặc biệt với từng tầng vỉa văn hoá vùng đất tổ, nhất là chuyện vùng Kẻ Gáp (Tứ Xã). Từ một câu chuyện dân gian, truyện danh nhân, đến những tác phẩm công phu như: "Bản anh hùng ca bất tử" viết về truyền thuyết Vua Hùng; "Dân ca dân vũ Trò Trám"; "Tục đánh cá thờ"; "Nghề mộc cổ truyền làng Tứ Xã"; sưu tầm về "Danh nhân văn hoá Đinh Công Tuấn và Trạng Trình"; truyện thơ "Sức sóng"; "Lân Hổ và đền thờ Xa Lộc"; "Phong tục Tứ Xã", "Truyện vui, truyện lạ, truyện cười" (100 trang)...

Được dư luận chú ý, sách báo nhắc đến nhiều hơn cả là công trình cụ Thâm phối hợp điền dã với nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn tìm hiểu về Bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương và những ngày làm dâu ở Tứ Xã. Công trình của cụ Thâm và ông Nhàn đã chỉ rõ: Tổng Cóc là một ông quan tài hoa, lãng tử, đã lấy Hồ Xuân Hương làm vợ thật. Khu "thuỷ tạ" chàng xây cho nàng, cái ao, ngôi nhà gỗ vợ chồng Bà chúa thơ Nôm từng sống, kể cả tiếng đồn về cái xấu (đỏng đảnh, lười làm, trăng hoa...) mà Hồ Xuân Hương để lại vẫn còn lưu giữ, lưu truyền ở Tứ Xã.

Công trình đã khiến GS Lê Trí Viễn và nhiều bậc thức giả phải về tận Tứ Xã khảo cứu và ai cũng ghi nhận sức thuyết phục bất ngờ của những tư liệu người thật, việc thật mà cụ Thâm đã ghi chép được. Cụ Thâm còn tìm thấy ngôi nhà có chữ do bà Hồ Xuân Hương viết lên vách đang được ông giáo Phú gìn giữ ở xã Sơn Dương chỉ cách Tứ Xã một cánh đồng. Đôi lục bình làm bằng gỗ có chữ Nôm (đã được đọc, dịch nghĩa, công bố), bà con đều kể là của Hồ Xuân Hương, cũng đang được anh Thắng ở Tứ Xã lưu giữ.

Cả một kho bản thảo, công trình đã xuất bản của cụ Thâm chất ngất trong nếp nhà cổ giản dị ấy. Ai cũng biết, nếu không có cụ, thì sẽ không có việc phục dựng được lễ hội Trò Trám sau hơn 70 năm biến mất, sẽ không có hàng đoàn sinh viên, các nhà nghiên cứu về Tứ Xã để hiểu hơn về một Bà chúa thơ Nôm có quãng đời làm dâu trên quê hương Tổng Cóc, nơi bà đã sáng tác những áng thơ cay xót và trác tuyệt nhất. Với rất nhiều đóng góp thầm lặng của mình, nhà Nho Dương Văn Thâm đã được trân trọng tôn xưng là nhà folklore trứ danh trong cuốn "Các nhà Folklore Việt Nam"; Huy chương Vì sự nghiệp Văn nghệ dân gian Việt Nam; Huy hiệu Vì sự nghiệp văn học nghệ thuật...

Theo Lao Động

  Đầu trang Gửi email  In trang  In bài  Gửi ý kiến
 
Xem tin theo ngày  Từ  Đến
 
Ba Lan sẵn sàng chấp thuận sự hiện diện của Nga tại căn cứ NMD
Chàng Hiều của “Bỗng dưng muốn khóc” tâm sự
Yêu em gái của vợ
Đùa vui cùng chàng
Không quân Israel có thể sẽ tấn công các khu vực hạt nhân của Iran”
Hiền Thục - "Bên cạnh tôi đã có một người"
Để nhìn, nghe và nhớ "Như cánh vạc bay"
Gu thời trang của Cẩm Ly
Kỳ nhân làng vật Yên Thế hạ
Niềm vui về ngôi nhà mới
Phát tài nhờ kinh doanh huyệt mộ
Người thu xác trên đường
Ám ảnh rừng ma
Những người Mường “cưỡi” ô tô lên nương
Hiu hắt trang trại!
Làm giàu từ trang trại lợn siêu nạc
Nữ chủ trại tỷ phú
Số phận một con người
Trang chủ :: Xã hội :: Công nghệ-Đời sống :: Thế giới :: Văn hoá :: Thể thao :: Tình yêu-Giới tính :: Việc làm