|
Từ xa xưa, người dân làng Hiền quê tôi cũng như dân Hương Nha, Vực Trường, Thanh Uyên và các xã trong vùng đều biết đến Hội Phết làng Hiền. Hễ là người con Hiền Quan, dù có đi khắp phương trời thì đến ngày đó cũng phải tìm mọi cách để về quê ăn tết, xem hội Phết quê hương.

Tái hiện hội phết Hiền Quan tại lễ khai mạc chương trình du lịch về cội nguồn. Ảnh: Đinh Vũ
Quá nửa đời xa quê, có về tết thì cũng chỉ sắp đặt lại bàn thờ tổ tiên; ra thắp hương cụ tổ và phần mộ ông, bà, bố, mẹ; thăm các nhà anh em trong xóm; ăn bữa tất niên với gia đình rồi lại ra đi, nên lần về quê này gợi lại trong tôi khoảng ký ức xa xưa về hội phết làng Hiền. Vào những ngày cuối năm nhà nào trong xóm, ngoài làng cũng nhộn nhịp xay lúa giã gạo nếp cho thật trắng để làm bánh chưng, bánh tẻ mang ra cúng ngoài Đình, Đền, Chùa. Các cụ ông trong xóm thì ra vườn tìm gốc tre già làm gậy và cù kheo cướp Phết. Ông trưởng họ bảo mấy đứa cháu trai chặt lấy cây bương to nhất, thẳng nhất, cao nhất đem ra làng để làm cây nêu quanh Hội Phết. Lần về hội năm ngoái, may mắn cho tôi được gặp bác Ngô Văn Huyên - người cao tuổi nhất xóm - giảng giải cho tôi biết thêm nhiều điều về lễ Hội Phết làng Hiền gắn với câu chuyện lịch sử bà nữ tướng Thiều Hoa công chúa và trò chơi cướp Phết.
Từ xa xưa, người dân làng Hiền quê tôi cũng như dân Hương Nha, Vực Trường, Thanh Uyên và các xã trong vùng đều biết đến Hội Phết làng Hiền. Đã lâu lắm rồi câu ca “Dù ai đi đâu về đâu, nhớ ngày Hội Phết mười ba thì về” cứ in đậm trong ký ức bao người. Hễ là người con Hiền Quan, dù có đi khắp phương trời thì đến ngày đó cũng phải tìm mọi cách để về quê ăn tết, xem hội Phết quê hương.
Dân làng Hiền Quan và trong vùng ai cũng biết câu ca: “Mười một Hương Nha, mười hai Gia Dụ, mười ba đám Hiền” ý nói về lễ hội dân gian trong vùng diễn ra trong ba ngày: Mười một, mười hai, mười ba tháng giêng. Lễ hội ngày mười một ở xã Hương Nha, ngày mười hai ở xã Gia Dụ (nay là xã Vực Trường) chủ yếu là các trò diễn dân gian như: Lễ đâm trâu, bắn nỏ, đu tiên, nấu cơm, giã bánh chưng, bánh dày... Mở đầu Hội Phết còn có nhiều trò diễn dân gian khác như: Ném lao, bắn nỏ, đu tiên, điểm binh pháp, vật... lễ ném lao được diễn ra vào ngày mồng 2 tết tại sân đình làng. Người ném lao rất đông chủ yếu là các bậc bô lão. Người làm lễ khai Lao là một lão làng hội tụ đủ ba chữ “Phúc - Lộc - Thọ” thì được dân tín nhiệm cử là người khai Lao. Hội khai Lao diễn ra trong buổi sáng.
Lễ Hội phết Hiền Quan gồm bốn phần đó là: Rước kiệu, tế lễ, kéo quân, đánh Phết. Lễ rước kiệu được tiến hành từ chiều ngày 12 tháng giêng. Trên kiệu là các sắc phong, bài vị, quả Phết, quả Chúi được cất giữ trong cung cấm của Đình làng từ ngày mồng 10 tháng 10 âm lịch. Kiệu được khiêng từ Đình ra Đền do các binh sĩ mình mặc áo giáp hộ tống. Sau lễ rước kiệu là phần tế lễ. Tham gia tế lễ là ông Tiên Chỉ và các bậc trưởng lão trong làng. Người đọc văn tế là ông bàn thượng, nội dung các bản văn tế được viết trong các sắc phong. Lễ “Khẩn tấu” do ông Tiên Chỉ đọc mong cuộc sống an bình cho mọi người sau đó là lễ dâng xôi gà, bánh chưng, bánh dày lên các bậc Thánh hiền. Sau ba tuần rượu tế là đến lễ kéo quân. Trước lễ kéo quân, đoàn binh sĩ cùng chầu trước cửa Đền để nghe chỉ dụ sau đó chia hai ngả miệng hô vang cả một góc trời.
Lễ kéo quân được chia thành hai đoàn, mỗi đoàn có từ 100 đến 200 người tham gia. Đi đầu mỗi đoàn là ông trưởng lão râu tóc bạc phơ, mình quấn khố vàng, đầu chít khăn đỏ tay cầm cờ nheo miệng hô vang, biểu thị sự oai phong của đoàn quân, tiếp đó là đội trống cái, trống con gõ theo nhịp phách. Đoàn binh sĩ nam có, nữ có mình mặc áo giáp vàng, đầu đội nón lá, chân quấn xà cạp đeo dày mũi hài tay cầm long đao cờ xuý. Khi đoàn quân gặp nhau thì binh sĩ tha hồ tranh cướp cờ, long đao. Đoàn nào cướp được nhiều coi như đoàn đó thắng rồi lại về chầu trước sân đền để nhận chỉ. Cứ như vậy, lễ kéo quân được diễn đi diễn lại ba vòng rồi lại tề tựu giữa sân Đền cùng hò reo vui mừng chiến thắng. Lễ kéo quân kết thúc cũng là lúc bắt đầu lễ ném Phết.
Lễ ném Phết hay còn gọi là hò Phết diễn ra tại một địa điểm đã được quy định trước. Trong lúc hai đoàn làm lễ kéo quân thì tại đền thờ vẫn diễn ra các tuần cúng bái. Các lão bàn thượng khẩn dụ khi nào đủ ba tuần rượu thì cũng là lúc hai cánh quân kéo về tới sân Đền. Không gian lễ hội huyên náo và sôi động hẳn lên. Ông Tiên Chỉ “con cả vua” thay mặt muôn dân đọc bài hò Phết sau đó ra bãi ném cho muôn dân tranh cướp. Mỗi Hội Phết thường chỉ ném 3 quả Chúi, 6 quả Phết. Tục truyền, nếu chẳng may ai đó bị quả Phết, quả Chúi rơi vào đầu thì chỉ cần đưa vào cung cấm của Đền cầu cúng là tai qua nạn khỏi, còn ai đó may mắn cướp được quả Phết, quả Chúi thì năm đó họ và gia đình cùng thôn xóm gặp được sự may mắn. Chính bởi điều thần bí này mà mỗi khi ông Tiên Chỉ mang quả Phết, quả Chúi ra là có hàng trăm, hàng ngàn người xô vào tranh cướp, đến lúc quả phết được ai đó cướp được chạy ra khỏi bãi ném Phết mà không có ai đuổi theo thì Quả Phết tiếp theo lại được ném ra. Nói về quả Phết, quả Chúi: Quả Phết và quả Chúi thường được làm từ gốc tre già hoặc gỗ thành ngạnh khô. Quả Chúi nhỏ hơn, đường kính từ 4-5cm, quả Phết đường kính từ 6-7cm. Hàng năm để chuẩn bị cho Hội Phết, Ban bàn thượng phân công cho một xóm lo đủ 3 quả Chúi và 6 quả Phết. Quả Phết, quả Chúi được đẽo tròn, sơn son thiếp vàng chờ đến ngày mồng mười tháng mười âm lịch thắp hương tại bàn thờ tổ tiên sau đó đem ra Đình giao cho làng. Ban bàn thượng làm lễ cúng tế sau đó cất giữ tại Hậu cung Đình làng chờ đến ngày 11 tháng giêng rước ra Đền để cầu cúng rồi giao cho ông Tiên Chỉ.
Lại nói về ông Tiên Chỉ. Ông Tiên Chỉ được tôn làm con trưởng bà Thiều Hoa công chúa thay mặt muôn dân đứng ra hò Phết, bài hò được các bậc trưởng lão soạn thảo. Từ xa xưa, làng Hiền đã đề ra quy ước chọn người làm Tiên Chỉ: Tất cả các Đình làng Hiền dù đi đâu ở đâu nếu đến tuổi 54 thì đều phải về làng làm lễ lên lão. Đến năm đó các Đinh trong làng vừa đủ 54 tuổi thì được lên lão và vào ban bàn thượng, người cao tuổi nhất được chọn làm Tiên Chỉ. Ông Tiên Chỉ phải là người sinh trước nhất so với các bậc đồng niên và phải là người trong sạch theo nghĩa bóng và nghĩa đen. Nếu đến Hội Phết mà ông Tiên Chỉ có “Bụi bặm” thì người kế tiếp lên thay, cứ thế có thể chọn đến ông đứng đầu tuổi 53. Ông Tiên Chỉ thay mặt muôn dân hò Phết là điều phúc đức không chỉ với bản thân, gia đình, dòng họ mà còn là điều vinh dự cho cả thôn xóm chính vì vậy mà tiêu chuẩn chọn ông Tiên Chỉ được đề ra rất nghiêm ngặt. Người được chọn làm Tiên Chỉ phải chấp hành đúng các quy định của làng, trước đó 3 tháng ông Tiên Chỉ phải ăn kiêng, ngủ kiêng, luôn giữ mình trong sạch để phụng sự công việc thần dân giao cho. Nếu người được tiến cử là Tiên Chỉ mà vi phạm một trong những quy định trên thì sẽ phải thay thế. Với tư cách là con trưởng bà Thiều Hoa công chúa, người đứng đầu thiên hạ thì năm đó gia đình và dòng họ phải chuẩn bị đủ 5 mâm xôi oản, gà mang ra Đền cung tiến. Hội Phết Kỷ Sửu vừa qua, xóm tôi có một ông được làm Tiên Chỉ nên cả họ cũng được thơm lây. Vào những ngày chuẩn bị lễ hội trong nhà ngoài ngõ râm ran tiếng nói, tiếng cười và lịch kịch tiếng chày giã gạo. Vui thật là vui mà cũng quê thật là quê.
Trở lại câu chuyện về ngày Hội Phết 13 tháng giêng. Sau khi cúng xong 3 tuần rượu, các bài tấu, bài sớ được đem hóa, ông Tiên Chỉ, các ông bàn thượng và muôn dân cùng bái lạy trước sân Đền. Ông Tiên Chỉ mặc áo thụng đỏ, đầu đội mũ cánh chuồn, chân đi hài mũi cong, hai tay ôm quả Phết hoặc quả Chúi, xung quanh là các Đinh làng mặc khố đỏ tay cầm lọng và cù kheo bảo vệ cùng hàng trăm, hàng ngàn người miệng hô vang câu vạn tuế theo ông ra hố Phết. Sau bài hò Phết, ông Tiên Chỉ thả quả Phết xuống hố, cuộc tranh cướp Phết bắt đầu, tiếng hò reo vang động cả một vùng. Cứ thế lần lượt ba quả Chúi, sáu quả Phết được ném ra để muôn dân cùng tranh cướp. Lễ hội tiếp diễn đến khi nào không còn ai tranh cướp nữa thì Hội Phết kết thúc. Đoàn rước kiệu, các lão bàn thượng cùng dân làng lại làm lễ rước kiệu về Đình, hẹn chờ đến Hội Phết 13 tháng giêng năm sau.
Hội Phết 13 tháng Giêng năm Canh Dần của làng Hiền đang đến gần. Mời bạn cùng tôi về dự hội để chiêm nghiệm, để cảm nhận nét đẹp truyền thống lịch sử, văn hóa, tâm linh lâu đời của một vùng quê đất Tổ hôm nay./. 
|