|
Ở Bình Định, không đâu đủ khả năng tranh chấp vị trí trung tâm ngành nghề tiểu thủ công nghiệp của An Nhơn. Nếu toàn tỉnh có 54 làng nghề, thì ngôi quán quân của An Nhơn đã chiếm 21 đơn vị.
Tại Hội làng nghề truyền thống được bày biện từ 27.7 - 3.8 trên diện tích 3ha dọc đường An Dương Vương, đẹp và thông thoáng nhất không gian Festival Tây Sơn - Bình Định 2008, nhằm dẫn dụ du khách tiếp cận sản vật cây nhà lá vườn, An Nhơn cũng "xí phần" áp đảo với 14/37 đại diện.
 |
| Chiếc độc lư giả cổ bằng trắc giá 3,6 triệu đồng tại cơ sở của Phạm Văn Điều |
Dấu cũ kinh xưa
Xã Nhơn Hậu và thị trấn Đập Đá gộp lại chỉ đủ rộng cho dăm tiếng đồng hồ dạo bộ. Nhơn Hậu vốn là đất vua. Suốt năm thế kỷ (TK X - TK XV) của vương triều Vijaya, đây vừa là kinh kỳ phồn hoa đô hội, vừa là thành luỹ mà các thế hệ chiến binh Champa nương tựa qua các cuộc binh đao khói lửa. Kinh thành đó là Chà Bàn, tức thành Đồ Bàn. Thời Tây Sơn, Nguyễn Nhạc khi lên ngôi, đã sửa sang, mở rộng Đồ Bàn thành Hoàng Đế thành hầu mưu đồ đế nghiệp. Triều Nguyễn, đất vua xưa bị giáng xuống làm Quy Nhơn - Bình Định (cũ), thì vẫn cứ là thủ phủ một phiên trấn.
Dài dòng, để giải thích hiện tượng hàng chục ngành nghề - cơ xảo, tinh vi có; giản đơn, lam lũ có - cứ xoắn xuýt, chen chúc, hô - ứng sát sạt nhau trong "lòng bàn tay" Đập Đá - Nhơn Hậu: Rèn Phương Danh, đúc đồng Bằng Châu, dệt Đông Phương Danh, nhang Bả Canh, nón lá Mỹ Hà (cùng dòng nón Gò Găng một thời vang bóng), gốm Nhạn Tháp, bún Ngãi Chánh. Mà chẳng cứ Nhơn Hậu, Đập Đá, suốt dải đất dọc bến sông Trường Thi, hễ ra ngõ là... đụng làng nghề: Cẩn, khảm xà cừ Nhơn An, Nhơn Hưng; đậu miếng, cốm nếp Nhơn Thành; gò đúc chiêng Nhơn Phúc...
Những sản phẩm do làng nghề An Nhơn sản xuất, chủ yếu là các sản phẩm thuộc nhóm ngự dụng, tế khí, nông cụ, đồ gia dụng và lương thực thực phẩm. Công năng lư, đèn, hương án, giáo, mác, gươm, đao, nồi, niêu, bát, đĩa thì đã rõ, điều làm con dân Bình Định hả hê là sự độc đáo và "sức mạnh" đến từ những món đồ ăn thức uống như bún Song Thằn, bánh phở An Thái (Nhơn Phúc), nhất là bánh tráng.
Từ khía cạnh khác, sản phẩm tiểu thủ công nghiệp An Nhơn còn là hình ảnh trực quan của sự giao thoa, tương tác hoặc song song tồn tại của các nền văn hoá. Có Đại Việt, có Champa, có cả yếu tố Trung Hoa. Với dòng văn hoá Chăm, giới nghiên cứu, người chơi cổ ngoạn giờ vẫn xuýt xoa về chuyện một đi không trở lại của bí quyết chế tác dòng gốm danh trấn thiên hạ: Gốm Gò Sành. Gò Sành, còn gọi xóm Sành, hiện thuộc thôn Phụ Quang, xã Nhơn Hoà.
 |
| Sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu ở Bắc Nhạn Tháp |
Nổi lên và chìm xuống
Trong mấy dãy nhà rộng rinh vừa là nơi ở, vừa là xưởng trại kiêm kho chứa hàng của Phạm Văn Điều - ở thôn Bắc Nhạn Tháp (Nhơn Hậu), có 3 thứ được đặt trang trọng là chứng nhận kỹ năng thủ công tinh xảo đối với lọ gỗ tiện và chạm hoa tại hội thảo "Thúc đẩy phát triển nghề thủ công và làng nghề Việt Nam" do Bộ NNPTNT, Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) tổ chức ở TPHCM tháng 6.2002; tấm ảnh chụp chung với Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn và tấm Huy chương Vàng Hội chợ - triển lãm Giảng Võ năm 2002. 49 tuổi, hậu duệ đời thứ tư của một gia đình thợ mộc cha truyền con nối, Điều có gần 40 năm lăn lóc với nghề cưa đục. Cơ sở của anh sử dụng gần 100 nhân công, trong đó, hàng chục thợ "chiến" tuyển về từ tận Nam Định.
Sản phẩm thì "muốn gì được nấy", từ những bộ bàn ghế, những chiếc giường bóng lộn, những giá gương cầu kỳ đến ông địa chang bang, ông Quan Công thần vũ, nhưng "hít" nhất là hàng trăm kiểu dáng lọ hoa chạm trổ công phu, tỉ mẩn. Điều kể quãng 1995, 1996 trở về trước, vợ chồng anh cũng cơ hàn lắm. Nhiều bận phải lếch thếch theo các đoàn công cán địa phương rảo khắp các hội chợ trong Nam ngoài Bắc để chào hàng. Rồi cũng tìm thấy "mắt xanh". Kết quả là hàng làm ra không kịp xuất đi Sài Gòn, Hà Nội, đi Lạng Sơn, Móng Cái, Lào Cai để sang bên kia biên giới. Thảng hoặc, Điều cũng góp mặt hội chợ, triển lãm trong nước, "nhưng là đi cho vui chứ chẳng phải cạy cục rao chào gì. Hồi Huế làm festival lần đầu, tôi đưa ra 40 thùng hàng, chỉ 2 ngày đã bán sạch bách, mà bán cao tới 9 - 10 lần giá gốc". Phạm Văn Điều không muốn lậu lọt số liệu kinh doanh, song nhìn cảnh xe pháo nghênh ngang, nghe mức lương 3 - 4 triệu đồng/tháng anh trả cho thợ, đủ biết "sóng" lớn cỡ nào.
Điều, cũng như 150 đồng nghiệp ở Bắc Nhạn Tháp thuộc nhóm "vương giả" trong cộng đồng làng nghề. Nhóm thường thường bậc trung là nghề làm bún, nấu rượu Bàu Đá, lấy công làm lời, lấy hèm nuôi lợn là chính. Anh Nguyễn Xuân Thành ở Ngãi Chánh, người tiên phong cơ giới hoá các công đoạn làm bún, cho biết, giàn máy đầu tư 60 triệu đồng vừa sắm mỗi ngày có khả năng ra 1 tấn bún, nhưng quần quật từ sáng đến tối, kíp thợ 4 người do Thành điều khiển chỉ kiếm khoảng 150.000 đồng, "không bằng tiền công làm cỏ mướn". "Trùm" bún Ngãi Chánh Đoàn Thiên Lang đứng bên gật đầu xác nhận. Mỗi ngày, từ Ngãi Chánh có 5 tấn bún đổ bộ xuống Quy Nhơn, rong ruổi vào tận Sài Gòn. Thứ bún dù được chuộng bởi sạch (không dùng hoá chất tẩy trắng), mềm, dai, giữ tươi 36 - 48 giờ, xem ra chỉ đủ khả năng giúp nhà sản xuất túc tắc qua ngày mà thôi.
Nhóm gieo neo nhất cộng đồng làng nghề có lẽ là rèn, đúc đồng, gò chiêng, dệt vải... Lão nghệ nhân Nguyễn Đức Phúc - nguyên Chủ nhiệm HTX rèn từ năm 1976 đến 1992, cuốn sử sống ở Phương Danh, nhớ tiếc... thời bao cấp: "Chúng tôi đánh hàng cho Cty điện máy T.Ư (Đà Nẵng), cho Cty công nghệ phẩm Nghĩa Bình, một mình một chợ tung hoành trên Gia Lai - Kon Tum, Đắc Lắc. Ở cái thời thiên hạ nghẽn cổ nuốt bo bo, sắn độn, xã viên HTX rèn vẫn xông xênh mỗi tháng 50kg gạo". Thời hoàng kim làng rèn kết thúc cuối thập niên 80 thế kỷ trước. "Sản phẩm công nghiệp ê hề, kiểu dáng, mẫu mã phong phú, giá lại rẻ làm tắt lịm không ít bếp lò. Trước làm thượng vàng hạ cám: Rìu, rựa, dao, kéo, bản lề..., nay còn lại chỉ mỗi lưỡi liềm gặt lúa. Bầy trẻ lớp dạt nghề khác, lớp trèo đèo lội suối lên Tây Nguyên tìm cơ hội đổi đời, lớp trụ lại thì số đông nguội lạnh với nghề. Ông Phúc, ở tuổi 70, bị bệnh thận giày vò, chỉ còn biết mơ màng hồi cố. Con ông, 5 người trai, thì 2 đứa đã "bái bai" không thương tiếc ngón tuyệt kỹ gia truyền.
Phục sinh làng nghề
Sự mai một, tàn lụi của một số ngành nghề truyền thống là xu hướng khó cưỡng. Thách thức trên đặt Bình Định vào thế phải giải cứu làng nghề. Trên thực tế, từ năm 2005, thông qua hệ thống khuyến công, Bình Định áp dụng chính sách hỗ trợ phát triển ngành nghề truyền thống mà tinh thần, nói như Phó Giám đốc Sở Công Thương Nguyễn Văn Thắng là "đào tạo, tập huấn, cấy nghề, nhân nghề, hỗ trợ khởi sự doanh nghiệp, xúc tiến thương mại...". Mỗi năm, có khoảng 2 tỉ đồng hà hơi tiếp sức cho chương trình. Con số chỉ đủ dựng cổng làng, bêtông hoá đường giao thông, lắp đặt hệ thống chỉ dẫn... Ông Thắng giải thích, hỗ trợ là tỉnh ghé một vai, huyện một vai, song vai chính vẫn là hộ gia đình, cơ sở sản xuất: "Để gánh vác sứ mệnh đổi mới công nghệ, đa dạng hoá sản phẩm, để đưa làng nghề tới gần thị hiếu người tiêu dùng đương đại, cần xây dựng doanh nghiệp đầu mối có gan và có lực. Phải thoát ly tâm lý ăn tươi nuốt sống, tầm nhìn thiển cận để thực hiện chiến lược đầu tư bài bản, có chiều sâu. Một hình mẫu như vậy hãy còn quá ít".
Phó Giám đốc Thắng dẫn chứng trường hợp trầy trật của ngành đúc đồng, nơi chỉ vì "kẹt" vốn đối ứng nên công sức tầm sư học đạo, ký kết thoả thuận hợp tác vớiÝ Yên (Nam Định) thành công cốc. Hay như rượu Bàu Đá, đối tác nọ cam kết hỗ trợ công nghệ giúp tối ưu hoá quy trình sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm, nhưng khi nghe "có 500 triệu việc này mới xong" thì không nhà sản xuất nào không... lặn mất tăm.
Dù sao, ngay chính Bàu Đá cũng đã phát đi tín hiệu tích cực. Bên cạnh cuộc đấu tranh giành lại tên gọi chân truyền từ hàng trăm năm trước với một doanh nghiệp "nhanh tay, lẹ mắt" ngoài Đà Nẵng, 33 hộ nấu rượu chính hiệu (sản xuất 200.000 lít thứ thiệt/năm trong số 4 triệu lít lập lờ tên gọi trôi nổi trên thị trường) cùng 28 cơ sở chế biến mới rồi đã ngồi lại để hình thành Hiệp hội làng nghề rượu Bàu Đá. Tương tự là Hiệp hội làng nghề Bằng Châu. Phó Chủ tịch UBND huyện An Nhơn Lê Minh Toán nói mô hình liên kết ngành nghề sẽ được dìu đỡ để không thành "một tập hợp đánh trống ghi tên cốt vui cửa vui nhà". Cả Lê Minh Toán lẫn Nguyễn Văn Thắng đều đề cập đến sự cần thiết phải tổ chức lại để làng nghề cùng sản phẩm của nó trở thành một phần của ngành "công nghiệp không khói".
Theo Lao Động
|