Theo Từ điển Bách Khoa Toàn thư Việt Nam thì: Áo tơi là áo khoác thường dùng che mưa ghép từ nhiều lớp lá (lá gồi hay cọ...), dùng chỉ móc khâu lại, dài đến bắp chân, không có tay áo, trên cổ có dây để buộc. Áo tơi mặc gọn, không vướng víu khi lao động (cày, bừa, cấy...).
 |
| Áo tơi ngày xưa |
Được dùng phổ biến ở nông thôn Việt Nam trước đây. Áo tơi còn có công dụng che nắng, gió.
Nhiều tỉnh có áo tơi và ngày xưa người Việt đã che nắng che mưa bằng chiếc áo tơi. Nhưng có lẽ theo tiến trình lịch sử và điều kiện địa lý tự nhiên, áo tơi vẫn còn tồn tại ở Hà Tĩnh cho đến ngày nay, người dân quê vẫn mang tơi ra đồng cày cấy. Áo tơi rất tiện lợi mùa đông thì ấm, mùa hè thì mát, mưa không ướt, đi chờ tàu chờ xe có thể lăn ra làm một giấc... vô tư! Có nhiều loại áo tơi: tơi xòe, tơi mỏng cho mùa nắng, tơi cụp và dày cho mùa mưa bão...
Trong ca dao, áo tơi trở thành vật cho tặng thể hiện tình yêu:
Yêu nhau cởi áo cho nhau
Về nhà dối mẹ qua cầu gió bay
Hiện nay những người phụ nữ trẻ ít dùng những chiếc áo tơi, nhưng hình bóng chiếc áo tơi mà ngày xưa các cụ bà vẫn mặc mỗi khi ra đồng đi làm thì còn mãi. Người Hà Tĩnh tự hào làm ra và gắn bó với những chiếc áo tơi trong thời tiết gió Lào khắc nghiệt. Người Huế mỗi độ đông sang, biết bao người nhớ những chiếc áo tơi xưa. Áo làm bằng lá nón, xếp từng lớp mỏng như bộ váy của một con công cồ. Khoác chiếc áo tơi lên vai, rồi đi trong mưa lạnh, nghe hai vai nằng nặng những giọt nước mưa. Một chiếc áo tơi có thể mặc ba bốn mùa mưa, cho đến khi những "tà" áo mủn ra, mầu vàng nhẹ chuyển sang mầu xám mùn, áo ngắn lên cũn cỡn nhưng vẫn còn dùng được. Lúc này, người ta đem mặc cho những thằng bù nhìn rơm ngoài đồng. Suốt mùa đông lạnh, chiếc áo tơi vẫn cứ ở đó che chở cho thằng bù nhìn đuổi chim.
 |
| Áo tơi ngày nay ở Hà Tĩnh |
Đơn giản từ chiếc lá cọ, làm nên sản phẩm độc đáo để rồi qua những vùng miền khác nhau tạo ra nét Việt đặc sắc.
Theo CAO
|