|
Một trong những giải pháp quan trọng được Ngân hàng Nhà nước đưa ra là nâng vốn điều lệ thành lập ngân hàng lên 3.000 tỷ đồng. Điều này sẽ hạn chế sự ra đời của các ngân hàng nhỏ về vốn, yếu về trình độ quản trị.
Ông Lê Xuân Nghĩa – Vụ trưởng Vụ chiến lược phát triển Ngân hàng cho biết: Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam đang chuẩn bị ban hành Nghị định mới thay thế Nghị định 49 về quản trị doanh nghiệp trong lĩnh vực NH. Nghị định mới được soạn thảo một cách rất công phu dựa trên các tiêu chí của WTO và các chuẩn mực của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) về quản trị doanh nghiệp. Đây có thể nói là cuộc cách mạng thực sự trong quản trị NH.
Khống chế số lượng bằng qui mô vốn
Theo ông Nghĩa, một điểm rất đáng chú ý là Nghị định này quy định những chuẩn mực mới về việc cấp phép thành lập ngân hàng thương mại (NHTM) nội địa và nước ngoài tại Việt Nam, bao gồm NH 100% vốn của nước ngoài, văn phòng đại diện… Có thể thấy rất rõ là, NHNN buộc phải đưa ra những hàng rào về mặt định lượng để khống chế số lượng NH nội địa và NH nước ngoài mới.
Ông Nghĩa phân tích một điểm trong Nghị định mới: quy định về vốn điều lệ là 3.000 tỷ đồng, tiêu chí về cổ đông sáng lập phải có vốn tự có là 500 tỷ đồng trở lên và phải hoạt động ba năm liên tục có lãi… Những quy định như vậy có thể nói là "cực kỳ khắt khe đối với các DN của Việt Nam”, gần như các tập đoàn quốc doanh bị khống chế tham gia thành lập NH. Ở Việt Nam, nếu loại bỏ các tập đoàn quốc doanh ra thì số lượng tập đoàn tư nhân có vốn 500 tỷ đồng hầu như là không.
Theo ông Nghĩa, "cái gì cũng có mặt trái". Nếu nói chúng ta có quá nhiều NH, các ngân hàng Việt Nam là quá nhỏ thì ở Mỹ, các NH với vốn tự có từ 20 triệu USD lại khá phổ biến, tức là còn nhỏ hơn các NH nhỏ nhất của chúng ta hiện nay (30 triệu USD). Chất lượng hoạt động của NH mới là yếu tố quyết định chứ không phải là quy mô. "Chúng ta thấy quy mô khổng lồ như Goldman Sachs, Lehman Brothers, Morgan Stanley… cũng có thể ngã gục" – ông Nghĩa nhấn mạnh.
Điều lo ngại là môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt mà các ngân hàng trong nước lại yếu kém về quản trị DN, quản trị rủi ro và cả về mặt công nghệ… các NH Việt Nam sẽ gặp không ít khó khăn lớn trong tương lai gần khi phải “đấu” lại các NH nước ngoài có tiềm năng và khả năng triển khai công việc rất nhanh chóng.
Biết người, biết ta…
Đối với hệ thống NHTM, những thách thức, biến động phức tạp của môi trường kinh doanh “lạm phát cao” vẫn đang còn ở phía trước.
Ông Trần Bắc Hà – Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) nhìn nhận: Sự trỗi dậy của các ngân hàng nước ngoài với khả năng quản trị rủi ro tiên tiến, giàu tiềm lực về vốn, chuyên nghiệp và đa dạng trong dịch vụ đã tăng sức ép cạnh tranh rất lớn lên các ngân hàng thương mại (NHTM) nội địa, nhất là trong điều kiện các điểm yếu của Ngân hàng trong nước về vốn, thanh khoản, quản trị… đang bộc lộ rõ trong thời gian gần đây.
Thực tế, 6 tháng đầu năm 2008, ngân hàng nước ngoài và ngân hàng liên doanh đạt tốc độ tăng trưởng tài sản và dư nợ tương ứng khoảng 33% và gần 50% (mức tăng trung bình toàn hệ thống ngân hàng chỉ khoảng 8% và gần 20%). Đến nay, khối ngân hàng này chỉ chiếm 9,3% tổng dư nợ cho vay (cả VND và USD), nhưng chiếm tới 29,5%/tổng dư nợ cho vay bằng USD của toàn hệ thống ngân hàng. Đặc biệt, mới đây HSBC và Standard Chatered Bank đã chính thức được cấp phép trở thành ngân hàng 100% vốn nước ngoài, hoạt động bình đẳng như các NHTM nội địa.
Còn bà Lê Thị Liên - Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng Thương mại cổ phần Hàng Hải thì cho rằng: Hệ thống tài chính chưa mạnh, năng lực quản trị rủi ro chưa hoàn thiện đi liền với xu hướng kinh doanh theo phong trào, đầu cơ ngắn hạn đã tác động không nhỏ đến phát triển kinh tế trong dài hạn. Hậu quả là căng thẳng thanh khoản, chạy đua lãi suất, tỷ giá biến động bất thường, lòng tin suy giảm. Hiện nay, số lượng ngân hàng và công ty tài chính hoạt động tại Việt Nam là quá lớn. Nhiều ngân hàng và công ty tài chính chỉ mới thành lập trong một vài năm, vì vậy còn thiếu các qui trình quản lý rủi ro và chưa có kinh nghiệm trước những biến động mạnh của thị trường và nền kinh tế.
Vào thời điểm này, câu hỏi đặt ra là chất lượng tài sản của các NHTM Việt Nam như thế nào (tỷ lệ nợ xấu trước mắt và lâu dài).
Ông Nghĩa cho biết, ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu cao nhất vào khoảng 4,5%, và thấp nhất là 0,18% theo chuẩn kế toán của Việt Nam. Ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu cao thường rơi vào các ngân hàng thương mại quốc dân và trong khối các ngân hàng này có đơn vị đã thực hiện gần giống chuẩn mực quốc tế nên tỷ lệ nợ xấu tương đối cao.
Dẫn chứng rõ hơn về điều này, ông Nghĩa phân tích về thị trường tài chính Mỹ. Cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ có những lý do rất sâu sắc về thị trường bất động sản (BĐS) nhưng cũng có lý do trực tiếp là các ngân hàng của Mỹ đều đã thực hiện báo cáo tài chính quốc tế. Chuẩn này đòi hỏi rất chặt chẽ về phân loại tài sản, đánh giá lại tài sản thế chấp hàng tháng và minh bạch thông tin. Khi giá BĐS xuống thì hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại xấu đi hàng ngày. Các nhà kinh tế lao vào phân tích càng làm cho các nhà đầu tư hoang mang và giá chứng khoán đi xuống (thị trường nợ BĐS của Mỹ đã được chứng khoán hoá - PV). Đây có thể là lý do về mặt kỹ thuật khiến cho các ngân hàng đầu tư của Mỹ sụp đổ rất nhanh chóng.
Năm 2008, khả năng sinh lời của hệ thống NH toàn cầu suy giảm. NH nào lãi nhất (lãi ròng trên vốn tự có) là vào khoảng 6%, nhiều NH thì âm, còn bình quân lãi khoảng 3-4%.
Ở Việt Nam, xu hướng có khá hơn, các ngân hàng nước ngoài cổ phần lãi ròng vào khoảng 6%-7%, trong khi đó khu vực NH quốc doanh vào khoảng 13%-14%. Đây là điều rất mới vì những năm trước đây, NH quốc doanh luôn có lợi nhuận thấp hơn các NH nước ngoài. Các NH nước ngoài và NH cổ phần trong nước gặp rất nhiều khó khăn về thanh khoản và họ cho vay rất nhiều trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng (thị trường 2). Trong số 42 NH vay của thị trường 2, thì có một nửa là các NH nước ngoài, còn một nửa là các NH cổ phần trong nước. Điều đó cho thấy khó khăn về thanh khoản không chỉ có ở những NH yếu và nhỏ ở Việt Nam mà có ở cả các NH nước ngoài./.
Theo VOV
|