|
Nguồn vốn FDI vào Việt Nam dồi dào đồng thời khiến Việt Nam đối mặt với hàng loạt khó khăn: lực lượng lao động không được đào tạo đầy đủ; đội ngũ cán bộ quản lý còn yếu kém; cơ sở hạ tầng chưa được đầu tư đúng mức…
Theo Bộ Kế hoạch-Đầu tư, vốn đăng ký cấp mới trong 6 tháng đầu năm 2008 tăng gấp 4 lần so với cùng kỳ năm trước. Thu hút FDI của Việt Nam hiện đứng thứ 6 trên thế giới. Còn ở châu Á, Việt Nam chỉ đứng sau Trung Quốc, Ấn Độ. Vấn đề đặt ra hiện nay là phải có sự chọn lựa kỹ càng với từng dự án, bởi đã có một số lĩnh vực Việt Nam đang “bội thực”.
Theo ông Terlier Herve – chuyên gia dự án "Nghiên cứu về tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với Việt Nam", thì nguồn vốn FDI vào Việt Nam dồi dào như thời gian vừa rồi đã khiến Việt Nam phải đối mặt với hàng loạt khó khăn. Trước hết, lực lượng lao động không được đào tạo đầy đủ ; đội ngũ cán bộ quản lý còn yếu kém ; cơ sở hạ tầng chưa được đầu tư đúng mức…
7 thách thức lớn về FDI với Việt Nam
Chất lượng đầu tư nước ngoài ở Việt Nam hiện nay ra sao ? Đằng sau những con số về qui mô đầu tư đặt ra những rủi ro gì?…
Bà Phạm Chi Lan, chuyên gia kinh tế, cho rằng, ngoài những rủi ro chung khi vốn FDI tăng như: Các doanh nghiệp nội địa làm ăn không tốt sẽ bị phá sản, phát triển không cân bằng giữa các vùng kinh tế trong nước, bất ổn trong nước (doanh nghiệp FDI phản ứng rất mau lẹ với những biến đổi của các cơ hội kinh doanh, họ có thể chuyển sang quốc gia khác khi thấy cơ hội đầu tư mới)… thì Việt Nam hiện nay phải đối mặt và cần hết sức tránh với 7 nhóm dự án FDI.
Thứ nhất, những dự án bị thổi phồng về số vốn cam kết và viễn cảnh lợi nhuận. "Có thể cùng một dự án nhưng với doanh nghiệp trong nước thì chỉ cần một số vốn nhỏ hơn nhiều trong khi doanh nghiệp FDI lại khuếch trương một khoản vốn khá lớn mà hiệu quả đầu tư lại ngang nhau.
Thứ hai, dự án đòi hỏi quá lớn về nguồn cung cấp năng lượng, nhân công giá rẻ. Lâu nay nhà đầu tư nước ngoài được ưu đãi về năng lượng rất nhiều. Ngoài ra còn có một số dự án tập trung khai thác tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam mà không hề có cam kết gì. Một số dự án FDI được Chính phủ cấp một diện tích đất đai khá lớn, rồi nhà đầu tư lại lấy đất đó để thế chấp ngân hàng để vay vốn.
Thứ ba, có những dự án gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng (sân golf, giầy da, thép…).
Thứ tư, là các dự án không phù hợp với qui hoạch phát triển của Việt Nam, tạo dư thừa công suất, chiếm đoạt đất sản xuất của người dân, gây ô nhiễm môi trường… (Ví dụ một đất nước nhỏ bé như Việt Nam thì sao sử dụng hết được 120 sân golf ; hay như khu công nghiệp, cảng biển, nhà máy lọc dầu… đang có nguy cơ thừa rất lớn). Bên cạnh đó là những lĩnh vực không mang lại lợi nhuận cho Việt Nam mà khi rút ra, doanh nghiệp FDI phải chuyển ngoại tệ ra nước ngoài.
Thứ năm, các dự án sử dụng công nghệ sau khi doanh nghiệp rút đi thì Việt Nam trở thành bãi rác công nghệ.
Thứ sáu, dự án của những đối tác không có thực lực, chỉ xin cấp phép đầu tư rồi "bán" lại suất cho đối tác khác.
Thứ bảy, là các dự án đầu tư "cướp ngân hàng". Nhà đầu tư sử dụng đất đai, uy tín của mình để vay vốn các ngân hàng trong nước (thực chất thì nguồn vốn này phải do nhà đầu tư mang từ ngoài vào). Khi đó, các doanh nghiệp trong nước không có điều kiện tiếp cận được với các nguồn vốn. "Những dự án cướp ngân hàng" đã xuất hiện ở Ấn Độ và một số nước có tỷ trọng FDI cao" – bà Phạm Chi Lan cho biết thêm.
FDI - biết rồi, khổ lắm, nói mãi Thu hút được lượng vốn FDI cao là điều đáng mừng. Song, việc chúng ta chỉ quan tâm đến tốc độ tăng trưởng mà không quan tâm đến hiệu quả đầu tư là việc phải xem xét lại.
Một xu hướng đầu tư dễ nhận thấy trong sáu tháng đầu năm là các nhà đầu tư nước ngoài tập trung đầu tư vào lĩnh vực bất động sản. Trong số 19 dự án quy mô lớn được cấp giấy chứng nhận đầu tư có tới 15 dự án đầu tư xây dựng các khu du lịch nghỉ dưỡng, khách sạn cao cấp, văn phòng, chung cư... Con số này khiến chuyên gia kinh tế cao cấp Lê Đăng Doanh đưa ra cảnh báo, cần hạn chế các dự án đầu tư vào bất động sản. Vì đây là những dự án ít tạo ra công ăn, việc làm. Sau khi kết thúc, các chủ dự án lại phải mua ngoại tệ để chuyển ra nước ngoài. Điều này sẽ ảnh hưởng tới cơ chế điều tiết tiền tệ trong nước.
Còn bà Phạm Chi Lan thì cho rằng: "Các vấn đề về đầu tư nước ngoài ở Việt Nam được đề cập rất nhiều nhưng lại chậm được khắc phục".
Theo các chuyên gia kinh tế, Nhà nước cũng cần phải xác định được nhu cầu thật sự ở từng lĩnh vực, hướng phát triển trong tương lai, và bài toán quy hoạch đô thị, từ đó mới có thể đưa ra những biện pháp khuyến khích hay hạn chế các nhà đầu tư. Khi đã có quy hoạch, thì nhà đầu tư phải làm đúng theo quy hoạch, không phải nhà đầu tư nước ngoài muốn lấy đất ở đâu cũng được.
"Vấn đề đặt ra hiện nay không phải làm thế nào để thu hút FDI mà phải xem xét loại đầu tư nào là cần thiết cho Việt Nam. Bởi lẽ, hiện nay Việt Nam đang "bội thực" một số loại FDI và đang phải chịu hậu quả ở một số lĩnh vực vì sự đầu tư dàn trải" - bà Nguyễn Thị Thu Trang (Ban Pháp chế - Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam) nhấn mạnh./.
Theo VOV
|